LIÊN KẾT WEBSITE

Tài nguyên dạy học

QUẢN TRỊ TRANG WEB

  • (LÊ VĂN DŨNG)

ĐỌC BÁO MỚI

Điều tra ý kiến

Bạn thấy website của chúng tôi như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Bang_so_nguyen_to_nho_hon_1000jpg.jpg CAM00049.jpg CAM00053.jpg CAM00042.jpg CAM00050.jpg CAM00040.jpg

    Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Website Phòng GD&ĐT Huyện Đông Hòa.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > NGHIÊN CỨU >

    NHÀ THƠ BÙI GIÁNG

    Vài lời cùng các bạn        Bùi Giáng, có thể xem là một hiện tượng lạ của nền văn học Việt Nam đương đại. Sinh thời, ông đã làm cho văn đàn tốn bao giấy mực, mất đi, văn đàn lại tốn thêm giấy mực để trả lời cho câu hỏi: Bùi Giáng là ai? Rốt cuộc, một câu trả lời duy nhât đúng về ông; BÙI GIÁNG LÀ BÙI GIÁNG. Bởi lẽ, Bùi Giáng có cái phức tạp trong đời thường, có cái tài hoa trong sáng tác, dịch thuật và có cả những phút xuất thần của những cơn điên, ông như một vì sao ghé xuống trần gian, đẻ lại cho cõi hồng trần bao điều bí ẩn.Đọc thơ Bùi Giáng, chúng ta cảm nhận cái hay trong cách sử dụng ngôn từ, xây dựng hình ảnh nhưng cắt nghĩa rõ ràng thơ Bùi Giáng hay như thế nào thì chẳng khác nào đứng trước những bức tranh siêu thực của Paolo Picasso để chỉ ra cái đẹp trong dòng tranh này.        Vài lời cùng các bạn để có thể cùng nhau tìm hiểu về một nhà thơ được nhiều người yêu mến.                                                                THẾ DŨNG

    Bùi Giáng

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

     

    Bùi Giáng (17 tháng 12 năm 1926-7 tháng 10 năm 1998) là một nhà thơ, dịch giả và nghiên cứu văn học của Việt Nam, ông nổi tiếng từ thập niên 1960 với tập Mưa nguồn. ông còn có các bút danh khác: Bán Dùi, Bùi Giàng Dúi.
     

    Tiểu sử

    Ông sinh tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.Bố của Bùi Giáng là ông Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam. Do người vợ cả qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiền. Bùi Giáng là con thứ hai của Bùi Thuyên với Huỳnh Thị Kiền nhưng là con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài Gòn, ông được gọi theo cách gọi miền Nam là Sáu Giáng.Sau khi học xong bậc tiểu học ở Trường Bảo An tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Bùi Giáng được gia đình cho ra Huế tiếp tục học ở Trường Trung học Thuận Hóa, đang học thì thế chiến thứ hai nổ ra, Nhật hất cẳng Pháp, rồi Cách mạng Tháng Tám thành công. Nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành Chung.Bùi Giáng cưới vợ năm 18 tuổi (1944), vợ ông là bà Phạm Thị Ninh nổi tiếng xinh đẹp, nhưng chỉ vài năm sau, bà bị bệnh, sinh non và cả 2 mẹ con cùng chết. Nhiều người cho rằng đây là 1 trong những lý do khiến Bùi Giáng bị điên từ lúc trẻ.Rồi Bùi Giáng theo kháng chiến. Năm 1950, khi có kỳ thi tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, Bùi Giáng dự thi và đậu Tú tài 2 văn chương. Ông qua Liên khu IV, tới Hà Tĩnh, để tiếp tục vào học đại học bằng cách đi bộ theo đường mòn trên núi hơn một tháng rưỡi trời. Nhưng khi đến nơi, không hiểu sao ngay trong ngày khai giảng, Bùi Giáng đã quyết định bỏ học để quay ngược trở về Quảng Nam rồi theo chân đàn bò rong ruổi khắp các vùng đồi núi 2 năm.Tháng 5-1952, Bùi Giáng ra Huế thi lấy bằng tú tài để có thể vào Sài Gòn theo học ĐH. Nhưng một lần nữa ông lại bỏ học khi đọc danh sách các giáo sư giảng dạy ở ĐH Văn khoa. Sau sự cố này, Bùi Giáng không bao giờ đi học nữa.Rồi Bùi Giáng chuyên tâm vào việc nghiên cứu, viết sách và sáng tác thơ văn. Những người thân cận cho biết ông đã về quê bán tất cả ruộng vườn được thừa kế để lấy tiền in sách.Từ năm 1957, ông lần lượt cho ra đời một loạt sách giới thiệu về văn học Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm...Ông nổi tiếng bởi tốc độ sáng tác nhanh: tập thơ Mười hai con mắt được ông sáng tác chỉ trong một đêm Noel năm 1992.Từ năm 1962, Bùi Giáng liên tục cho ra đời nhiều đầu sách. Mỗi năm đều đều vài ba cuốn. Ông là một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở miền Nam Việt Nam trước 1975. Sách của ông có thể chất thành chồng cao cả mét, thơ thì phải kể bằng đơn vị nghìn bài [1].Năm 1969, tất cả sách vở cùng với nhà cửa của ông bị quân Giải Phóng thiêu trụi. Ông bị sốc nặng, từ đó trở đi ông là bệnh nhân quen thuộc của viện dưỡng trí Biên Hòa.Sau năm 1975, ông không bị đi học tập cải tạo như nhiều văn sĩ miền Nam khác vì ông bị mắc bệnh tâm thần.Từ 1975 trở đi ông vẫn tiếp tục sáng tác rất nhiều thơ, nhưng thời gian này ông có biểu hiện bệnh tâm thần nặng. Ông thường rong chơi nghịch ngợm ngoài đường với bộ đồ rách rưới, dơ dáy, nhiều lần bị công an bắt vì gây rối trật tự, cản trở giao thông.Tháng 10 năm 1998, trong một lần đi chơi ông bị té làm chấn thương sọ não. Sau khi hỏi ý kiến của nghệ sĩ Kim Cương, bệnh viện chợ Rẫy quyết định mổ cho ông, song ông đã qua đời vào ngày 7 tháng 10, 1998.

    Chuyện tình cảm

    Bùi Giáng chỉ có 1 vợ là bà Phạm Thị Ninh, một thiếu phụ hồng nhan bạc mệnh đã để lại cho ông nhiều đau khổ. Đó là lý do để trong thơ của ông sau này thường xuyên nhắc đến sự mất mát, sự chia ly, một hình bóng cũ: "Có hàng cây đứng ngóng thu/ Em đi mất hút như mù sa bay; hay những dòng thơ trên bia mộ của Bùi Giáng:Đùa với gió, rỡn với vânMột mình nhớ mãigái trần gian xaSương buổi sớm, nắng chiều tàTrăm năm hồng lệ có là bao nhiêuSong ngoài người vợ đầu, Bùi Giáng cũng có những đối tượng khác để yêu, để làm thơ, ngoài mối tình đơn phương nổi tiếng giành cho nghệ sĩ Kim Cương, còn phải kể đến những mối tình vượt không gian với những mỹ nhân Tây Phương như Marilyn Monroe (mà ông gọi là Lyn-rô), Brigitte Bardot, ngoài ra trong thơ ông còn có những hình bóng của ca sĩ Hà Thanh, Thái Thanh, ni cô Trí Hải, ni cô Phùng Khánh (ông gọi là Mẫu thân Phùng Khánh), hay cả những nhân vật tiểu thuyết Marguerite, A Châu, A Tử.Riêng mối tình đối với Kim Cương được cho là sâu đậm nhất, và đã để lại khá nhiều giai thoại.

     Tác phẩm

    Thơ

    • Mưa nguồn (1962)
    • Lá hoa cồn (1963)
    • Màu hoa trên ngàn (1963)
    • Mười hai con mắt (1964)
    • Ngàn thu rớt hột(1967)
    • Rong rêu (1972)
    • Thơ vô tận vui (1987)
    • Mùa màng tháng tư (1987)
    • Mùi Hương Xuân Sắc (1987)
    • Đêm ngắm trăng (1997)

     Dịch thuật

    • Trăng châu thổ
    • Hoàng Tử Bé
    • Khung cửa hẹp
    • Hòa âm điền dã
    • Ngộ nhận
    • Cõi người ta
    • Nhà sư vướng luỵ

     Nghiên cứu

    • Tư tưởng hiện đại (1962)
    • Martin Heidgger và tư tưởng hiện đại (1963)
    • Đi vào cõi thơ
    • Thi ca tư tưởng
    • Một vài nhận xét về bà huyện Thanh Quan
    • Một vài nhận xét về Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm, quan Âm Thị Kính
    • Vài nhận xét về truyện Kiều và truyện Phan Trần
    • Sa mạc phát tiết (1965)
    • Sa mạc trường ca (1965)
    • Bài ca quần đảo (1969)
    • Mùa thu trong thi ca
    • Ngày tháng ngao du
     

    Ăn Mặc Nâu Sồng.
    Thấy nàng ăn mặc nâu sồng
    Bỗng mơ tưởng tới ruộng đồng hoang liêu
    Lầu xanh dứt nhịp phù kiều
    Tà xiêm bạo động tư triều giậy cơn
    Nâu sồng ăn mặc sớm hôm
    Ðêm nằm ngó nguyệt sáng dòm song the

    Đường Xuân (14)
    Đường xuân chờ đợi đã lâu
    Bàn chân em bước từ đầu tiên đi
    Em đi lúc gió đang bay
    Gió bay em bước cỏ say sưa mừng
    Bàn chân trần năm ngón chân
    Chân năm ngón như sương đầm lá ướt
    Cỏ chào em như phơi mở linh hồn
    Em giẫm lên nhẹ nhẹ dịu dàng
    Tình yêu xuân thăm nồng nàn xiết bao
    Cõi bờ từ đó về sau
    Em từ bờ cỏ chiêm bao đi về
    Xuân xanh từ đó tê mê
    Nhân gian vô lượng hội hè một hôm (liên miên)

    Đi Và Về
    Em đi từ tỉnh mộng đầu
    Hết vui hết khổ hết sầu trăm năm

    Cõi nào rất mực xa xăm
    Máu tim băng giá bóng tăm mơ màng

    Em từ vô tận đá vàng
    Về chìm đắm giữa lá vàng thiên thu

    Chiều nay có giống chiều nào
    Lá vàng rơi rắc tiêu tao lạ lùng

    Đắm chìm đắm đuối mông lung
    Chiêm bao khắp nẻo tận cùng khắp nơi

    Đêm nay mưa gió đầy trời
    Buồn vui kỷ niệm bồi hồi đêm nao

    Buồn tênh ngôn ngữ thì thào
    Xuân đi động đậy mận đào đào nguyên

    Còn nguyên phố thị diện tiền
    Bình nguyên hậu diện thuyền quyên hội đàm

    Em từ vô tận dư vang
    Kết chùm cỏ mọc đá vàng thiên thâu

    Em đi từ tình mộng đầu
    Trùng lai chất vấn biết đâu điệu chào


    ( trích tập thơ Như Sương )

    Ở Đời Chúc Kỷ Niệm Cỏ Thơm
    Ở đời sáng uống cà phê
    Quán trong hẻm nhỏ như quê quán nhà

    Ngoại ô thành phố phồn hoa
    Ấy Sài - Gòn, ấy thiết tha bấy chầy

    Phồn hoa nô nức lắm thay
    Càng hăm hở lắm càng ngây thơ nhiều

    Lạ cho đất nước diễm kiều
    Miền Nam nước Việt sóng triều Cửu Long

    Ngồi đây tưởng nhớ xa xăm
    Nhớ nhung Lục Tỉnh trăng rằm Long Xuyên

    Ba mươi năm trước hiện tiền
    Hình về hiện tại bóng nghiêng nghiêng đầu

    Ở đời có được mấy đâu
    Hoa thơm cỏ lạ thơm màu ngẫu nhiên

    Ôi người thục nữ Long Xuyên
    Tìm đâu thấy lại thuyền quyên một lần

    Tình và nghĩa, nghĩa và ân
    Tình yêu ân nghĩa tình thân hơn tình

    Về sau vạn lý tiền trình
    Ngẫu nhiên ngồi quán một mình ngoại ô

    Nhớ nhung từng đợt xôn xao
    Tuổi già vây chặt chiêm bao lối về

    ( trích tập thơ Như Sương )

    Ai đi tu
    Trời sầu đất muộn thế ru
    Ban đầu em đã đi tu vội vàng
    Chân trời oán hận tràn lan
    Lỗi từ phương trượng u hàn niềm hoa
    Bây giờ ngó lại người ta
    Gẫm rằng thiên hạ ai là đi tu.

    Anh Lùa Bò Vào Đồi Sim Trái Chín
    Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
    Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
    Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín
    Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh

    Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa
    Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh
    Chim ngây ngất vào trong đôi mắt lả
    Anh lim dim cho chết lịm hồn mình

    Anh quên mất bò đương gặm cỏ
    Anh chỉ nghe tiếng cọ rì rào
    Có hay không ? bò đương gặm đó ?
    Hay là đây tiếng gió thì thào ?
    Hay là đây tiếng suối lao xao
    Giữa giòng cỏ xuôi ghềnh chảy xuống ?

    Mùi thoang thoảng lách lau sương đượm
    Mùi gây gây gấy gấy của hương rừng
    Mùi lên men phủ ngập mông lung
    Không biết nữa mà cần chi biết nữa

    Cây lá bốn bên song song từng lứa
    Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn
    Hạnh phúc trời với đất mang mang
    Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ
    Với người ngó ngất ngây đương nằm đó
    Không biết trời đất có ngó mình không

    Vĩnh Trinh - Thạch Bàn 1950

    Anh Sực Nhớ
    Anh sực nhớ Sơn Chà Phường Rạnh
    Anh sực nghe mưa tạnh gió chiều
    Hoàng hôn trút mộng hoang liêu
    Sông dài biển rộng ngọn triều đang dâng

    Mà em ở cô đơn khóm trúc
    Một xóm làng hiu hắt xa xôi
    Anh mang nhung nhớ cuối trời
    Ngóng về thôn ổ đầu đời quạnh hiu

    Anh biết rõ từ chiều qua sớm
    Sớm chiều em vui chớm chợt buồn
    Một mình nhìn bóng sương buông
    Vui là vui gượng yêu thương đau ngầm

    Cũng có lúc sương đầm lá cỏ
    Gió vi vu bày tỏ nỗi niềm
    Mỉm cười môi thắm mắt tiên
    Niềm vui rất mực thuyền quyên muôn đời

    Anh ướm hỏi rồi thôi không dám
    Quen thân gì mà gạn gùng gì
    Thõng tay chân bước bước đi
    Buồn tênh niệm tưởng nhu mỳ giai nhân

    Bùi Giáng
    ( trích tập thơ Như Sương )

    Anh Và Em Vào Rừng
    Vào rừng nhặt củi cùng em
    Đói lòng ăn đỡ trái sim, hột chà là

    Khát lòng uống suối ngọc ngà
    Trưa chói chang nắng suối ngà tắm chơi

    Rồi đến lúc nắng chiều trời xế
    Củi bó rồi, bệ vệ đưa vai

    Nâng lên, lưng thẳng, dặm dài
    Xuống rừng kĩu kịt miệt mài về thôn

    Em bước trước , bồn chồn ngoảnh lại
    Anh đi sau gánh trái vai đau

    Nhìn anh nhăn nhó mệt đừ
    Ghé vai em bảo hãy nhường cho em

    (trích tập thơ Như Sương )

     

    Áo Xanh
    Lên mù sương, xuống mù sương
    Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu
    Tuổi thơ em có buồn nhiều
    Thì xin cứ để bóng chiều đi qua
    Biển dâu sực tỉnh giang hà
    Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh .

    1926 - 1998

    Bờ Lúa
    Em chết trên bờ lúa
    Để lại trên đường mòn
    Một dấu chân bước của
    Một bàn chân bé con
    Anh qua miền cao nguyên
    Nhìn mây trời bữa nọ
    Đêm cuồng mưa khóc điên
    Trăng cuồng mưa trốn gió
    Mười năm sau xuống ruộng
    Đếm lại lúa bờ liền
    Máu trong mình mòn ruỗng
    Xương trong mình rã riêng
    Anh đi về đô hội
    Ngó phố thị mơ màng
    Anh vùi thân trong tội lỗi
    Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang

    Bữa Nay Ruộng Nhớ
    Ruộng đồng mọc lúa
    Ruộng đồng mọc lúa quanh năm
    Em về đại lộc tôi nằm Bình dương
    K ra hai nẻo lộn đưng
    Sầu riêng châu chấu một nưng năm xưa




    Ruộng đồng không mọc
    Ruộng đồng không mọc lúa mùa
    Từ hôm cánh tr¡ng cò lưa tiếng buồn
    đêm nào nhỏ giọt khe mương
    đêm này rớt hột mù sương bây gi .




    Bữa nay ruộng nhớ
    Bữa nay ruộng nhớ lưng tri
    Thông ngàn lũng tạ núi ngồi chiêm bao
    Ra đi mang hận hội nào
    Cổng xô còn vọng điệu chào bay ngang.

    Bao giờ
    Bằng bút chì đen
    Tôi chép bài thơ
    Trên tường vôi trắng



    Bằng bút chì trắng
    Tôi chép bài thơ
    Trên lá lục hồng



    Bằng cục than hồng
    Tôi đốt bài thơ
    Từng phút từng giờ



    Tôi cười tôi khóc bâng quơ
    Người nghe người khóc có ngờ chi không.

    Bé Con Ơi
    Rong rêu ngày tháng rong chơi
    Tìm xuân tinh thể chốn nơi nào là
    Sưu tầm túy vũ cuồng ca
    Hồn nhiên như thể như là hài nhi?
    Chiêm bao tóc thuận tơ tùy
    Tồn sinh nặng nhọc nhu mỳ ở đâu
    Ngữ ngôn khép kín mặc dầu
    Hùng tâm tim máu óc đầu mở ra
    Dịu dàng cuối lá đầu hoa
    Mười về châu lệ chín sa dòng dòng
    Miêu Cương mạc ngoại hoài mong
    Hồng hoang chíb bệ tấm lòng đầu thai
    Mùa xuân hiện giữa ngàn mai
    Nguyên hình Nữ Chúa trên ngày phù du.



    thơ Bùi Giáng
    Thế Kỷ 1994

    Buồn Đã Nhiều
    Buồn đã nhiều giờ xin vui nhiều nữa
    Nhiều không xong thì ít cũng được rồi
    Miễn tí chút long lanh là đủ lắm
    Cạn ly này ? nâng nhẹ nhẹ lên môi

    Thử gắng gượng làm bài thơ chưa biết
    Đã biết rồi ? chưa biết , nói cho vui
    Từ vạn thuở , trăm năm là bất diệt
    Từ thiên thu , chỉ đón một đời người

    Em chịu đón hay là không chịu đón'
    Chịu đón thì đón rước cho tươi vui
    Đừng mặc cả éo le là lẫn lộn
    Lẫn lộn là hỗn độn lấp chôn vùi

    Những từ đó về sau sẽ có lúc
    Bất thình lình tuế nguệt tới sau lưng
    Không báo trước là giây hay là phút
    Là giờ nào tất mệnh đóng kín bưng

    Hai cánh cửa khóa chặt đời chưng hửng
    Mặc tồn sinh gắng sức rúc chui ra
    Và lúc đó còn đâu giờ để tưởng
    Tới máu tim tiều tụy với ruột rà

    Nằm im dưới đất thiết tha
    Thương yêu đứt ruột lá hoa trên đời
    Còn đâu nữa dịp phanh phơi
    Tan hoang hào lũy dưới trời dửng dưng

    Giận hờn đã lắm vô duyên
    Còn đâu kỳ ngộ ngẫu nhiên ban đầu

    Bài thơ có nói gì đâu
    Bài thơ bắt buộc chậm mau hương mùa
    Lúc khắng khít , lúc lưa thưa
    Vì không một lúc nào ngừa mai sau

    Nào ngờ có nghĩa gì đâu
    Trăng thanh gió mát lần thâu đã nhiều
    Đăm chiêu rất mực đến điều
    Tử sinh liều giữa hoang liêu cuối cùng

    (trích tập thơ Như Sương

    Cũng Là Như Thế
    Nằm giữa vườn cây nhớ bốn trời
    Ba bề bảy ngõ nhớ muôn nơi
    Tưởng chừng thiên hạ mênh mông quá
    Mà thơ ta chỉ có vài lời
    Tặng người người có nhận hay không
    Thong dong lá lục hoa hồng
    Trái soài vàng ửng nắng lồng sương mai
    Tôi nằm ở giữa vườn cây
    Tấm lòng men rượu từ nay chịu chừa
    Điên cuồng nhảy múa sớm trưa
    Từ nay chấm dứt - thượng thừa hoàng trang

    Cọp Beo Và Hoàng Hậu
    Áo vàng Hoàng Hậu nắng trưa
    Một hôm về ngủ lúc vừa ra đi
    Beo và Gấu thầm thì sau trước
    "Brigitte ôi! cô bước hai chân"
    Trần gian bất tuyệt một lần
    Nghe triều Biển Lục xa dần Non Xanh

    Cỏ Hoa Hồn Du Mục
    Nghe trời đổ lộn nguyên khê
    Tiếng vàng rụng rớt gieo về động xanh
    Gót chân khơi rộng bóng cành
    Nhịp vang đầu núi vọng thành lũy siêu
    Thời gian chắc bước bên chiều
    Khóc sông bến lạ mưa chiều sớm xuân
    Cỏ hoa từ bỏ ruộng đồng
    Hồn du mục cũ xa gần hử em

     
    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Văn Dũng @ 09:27 09/09/2009
    Số lượt xem: 872
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến